La Nina là một hiện tượng thời tiết cực đoan khi nước biển ở khu vực xích đạo Thái Bình Dương trở nên lạnh hơn so với bình thường. Hiện tượng này xuất hiện theo chu kỳ và có tác động lớn đến khí hậu toàn cầu, ảnh hưởng đến nền kinh tế, nông nghiệp, ngư nghiệp và các ngành công nghiệp khác. La Nina có thể gây ra khô hạn ở một số khu vực và mưa lớn ở các khu vực khác trên thế giới, cũng như làm tăng mức độ băng tan trên các vùng băng biển. Sự lạnh đi của nước biển Thái Bình Dương xích đạo tạo ra những thay đổi quan trọng trong mẫu mưa, nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác.
Theo báo cáo của Trung tâm Dự báo Khí hậu của NOAA, El Nino chính thức hoạt động từ tháng 6/2023 và hiện tại đang yếu đi, với 85% khả năng chuyển sang pha trung hòa trước tháng 6. Sau đó, La Nina có khả năng quay trở lại, với 60% khả năng xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 8 năm nay. Kể từ năm 1950 đến nay, thế giới đã trải qua ba đợt pha mạnh La Nina.
“Các đợt La Nina điển hình xảy ra vào năm 1998 - 2000, 2007 - 2008, 2010 - 2011 và 2020 - 2022. Trong đó, thời kỳ La Nina 2020 - 2022 ghi nhận nhiều thiệt hại. Năm 2020 cả nước có 16/22 loại hình thiên tai, với 14 cơn bão và áp thấp nhiệt đới; 120 trận lũ quét, sạt lở đất; 265 trận giông, lốc, sét... làm 357 người chết và mất tích, tổng thiệt hại trên 39.960 tỷ đồng. Riêng thiên tai năm 2022 ở nước ta đã làm 175 người chết, mất tích, thiệt hại kinh tế gần 19.500 tý đồng.” PGS. TS Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu cho biết.
Theo dự báo, giai đoạn 2023 - 2024 sẽ chứng kiến pha mạnh đến rất mạnh của hiện tượng La Nina sau giai đoạn El Nino kéo dài trước đó.
Tác động của La Nina đến ngành thủy sản
Khi gió tín phong mạnh lên, áp lực gió tăng lên bề mặt biển phía Đông khiến nhiệt độ bề mặt biển lạnh đi dị thường. Dòng chảy hướng Đông do gió tín phong tạo ra sẽ đưa lượng nước ấm bề mặt dồn về phía tây, làm dày lớp nêm nhiệt ở phía tây và tăng cường hoàn lưu Walker. Nhiệt độ bề mặt biển cao hình thành dòng thăng ở phía Tây Thái Bình Dương gây mưa cho khu vực này, trong khi phía Đông thì ít mưa, lượng sinh vật phù du giảm, dẫn đến tôm cá ít đi, tạo ra pha La Nina ngược lại với El Nino.
La Nina làm giảm nhiệt độ nước biển, ảnh hưởng tiêu cực đến một số loài thủy sản nhạy cảm với nhiệt độ. Các loài này gặp khó khăn trong việc sinh sản và phát triển. Nhiệt độ nước biển giảm cũng tạo điều kiện cho vi sinh vật gây hại phát triển, dẫn đến bùng phát bệnh tật trong các trại nuôi trồng thủy sản, gây thiệt hại cho người nuôi cá và các loài thủy sản khác. La Nina thường gây ra thời tiết cực đoan như bão, mưa lớn và lũ lụt, ảnh hưởng đến cơ sở nuôi trồng thủy sản, làm hư hại lồng bè, ao hồ và giảm sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản.
Tuy nhiên, La Nina cũng mang lại một số lợi ích. Tại một số khu vực, đặc biệt ở phía Đông Thái Bình Dương hiện tượng trôi lên của nước biển (upwelling) mang nguồn nước lạnh giàu dinh dưỡng từ dưới biển sâu lên bề mặt, thúc đẩy sự phát triển của sinh vật phù du - nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài cá như cá cơm và cá mòi. Điều này có thể tăng năng suất khai thác cá, giúp phát triển mạnh các loài như tôm, mực và những sinh vật biển khác, tăng cường khả năng sinh sản và gia tăng quần thể. La Nina có thể thay đổi chuỗi thức ăn của các loài, làm cho sứa và tôm phát triển mạnh mẽ hơn, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của khu vực.
“Hiện tượng La Nina có thể ảnh hưởng tới sản lượng lúa mỳ và ngô tại Mỹ, đậu nành và ngô tại khu vực Mỹ Latinh, trong đó có Brazil. Gió mùa sẽ mang theo lượng mưa đáng kể trong thời gian xảy ra La Nina. Điều này gây ảnh hưởng đến ngành sản xuất thức ăn thủy sản toàn cầu” - Chuyên gia Sabrin Chowdhury, trưởng nhóm phân tích hàng tiêu dùng tại BMI cho biết.
Việt Nam, với đặc điểm là quốc gia ven biển, đón nhận sự giao thoa của các hệ thống gió mùa và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những biến đổi mạnh mẽ của các điều kiện khí quyển và đại dương, bao gồm cả hiện tượng La Nina. Từ giữa thế kỷ XX đến nay, đã có hơn 13 lần La Nina tác động trực tiếp đến thời tiết Việt Nam. Năm nay, La Nina có khả năng xuất hiện trở lại, chứng tỏ rằng trạng thái khí quyển gần đây biến động mạnh do biến đổi khí hậu toàn cầu; sự chuyển từ pha nóng sang pha lạnh hoặc tái xuất hiện pha lạnh diễn ra nhanh hơn nhiều so với trước.
Theo các nhà khoa học khí hậu Việt Nam, vào những năm La Nina, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam nhiều hơn rõ rệt so với những năm El Nino, trung bình 8,3 cơn/năm so với 5,3 cơn/năm và nhiều hơn trung bình nhiều năm khoảng 1 cơn. Năm nhiều bão nhất có tới 11, 12 cơn; năm ít nhất cũng 5, 6 cơn. 60% số năm có La Nina có trên 9 cơn bão/năm. Tần suất bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực từ Trung bộ trở vào trong những năm có La Nina là 70%. Do đó, trong điều kiện La Nina, bão và áp thấp nhiệt đới có xu hướng xuất hiện nhiều hơn so với điều kiện El Nino.
Sau hiện tượng El Nino, La Nina thường xảy ra, tăng lượng mưa và giảm nhiệt độ trung bình. Các ruộng nuôi thủy sản gần biển và vùng nước lợ sẽ chịu tác động tiêu cực từ bão lũ bất thường, đặc biệt là ở miền Trung. Dòng nước thay đổi do mưa nhiều khiến dịch bệnh phát triển và giảm sức đề kháng của thủy sản nuôi trồng như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá tra và cá basa. Mưa nhiều cũng làm giảm sản lượng ngô, lúa mì, nguyên liệu đầu vào của ngành thức ăn thủy sản. Mưa lũ kéo dài làm nước biển đi sâu vào đất liền, vùng nuôi trồng cá basa sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề.
Hiện tượng La Nina mang lại những cơ hội cũng như thách thức cho ngành thủy sản, để tận dụng các lợi ích và giảm thiểu tác động tiêu cực, người nuôi trồng thủy sản, các doanh nghiệp cần có biện pháp quản lý và ứng phó thích hợp. Việc chuẩn bị sẵn sàng sẽ mang lại nhiều lợi ích, bao gồm cơ chế bảo vệ vật nuôi, giảm thiểu nguồn cung thiếu hụt, đáp ứng nhu cầu tăng cao, từ đó tối ưu hóa lợi nhuận và biến khó khăn thành cơ hội để lội ngược dòng trong thị trường thủy sản đầy biến động hiện nay.
Hải Đăng